Tìm hiểu tác dụng của vitamin và khoáng chất trong giai đoạn mang thai

Acid folic (vitamin B9) cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào đồng thời giúp việc hình thành tế bào máu. Acid folic có thể giúp giảm tới 70% nguy cơ các dị tật sơ sinh lớn ảnh hưởng đến cột sống và não.

Thai nhi thiếu Acid folic có thể bị khiếm khuyết ống thần kinh mà biểu hiện là nứt đốt sống, thoát vị não… và làm tăng nguy cơ dị tật ở tim, chi, đường tiểu, sứt môi, hở hàm ếch… ở trẻ.

Thai phụ thiếu hụt acid folic có thể bị: thiếu máu, sẩy thai, sinh non, sinh con nhẹ cân.

Nhu cầu axit folic ở người mẹ có thai là 300- 400mcg/ngày.

Nguồn cung cấp axit folic là rau có màu lá xanh đậm như mồng tơi, bó xôi, bông cải xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, bánh mì nguyên cám, hạt dẻ, đậu phộng và các thực phẩm có bổ sung axit folic hoặc viên đa vi chất có axit folic.

Vitamin D giúp cho sự hấp thu các khoáng chất như canxi, phospho. Nếu cơ thể thiếu vitamin D, lượng canxi chỉ được hấp thu khoảng 20%, dễ gây các hậu quả như trẻ bị còi xương ngay trong bụng mẹ hay trẻ sanh ra bình thường nhưng các thóp sẽ lâu đóng lại.

Những phụ nữ có thai nên có thời gian hoạt động ngoài trời càng nhiều càng tốt. Vitamin D có nhiều trong phomát, cá, trứng, sữa, hoặc các thực phẩm có tăng cường vitamin D.
373 Tìm hiểu tác dụng của vitamin và khoáng chất trong giai đoạn mang thai
Vitamin D có nhiều trong sữa. Ảnh: Getty Images

Vitamin A có vai trò đặc biệt trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng tế bào não, thính giác, thị giác của thai nhi và tăng cường miễn dịch trong cơ thể.Thiếu vitamin A sẽ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và tử vong, có thể gây khô mắt, dẫn đến mù lòa vĩnh viễn nếu không được điều trị. Đối với người phụ nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt, không cần bổ sung vitamin A trong suốt thời gian mang thai.
Nhu cầu vitamin A là 600mcg/ngày từ nguồn thức ăn tự nhiên. Sữa, gan, trứng… là nguồn vitamin A động vật, dễ dàng được hấp thu và dự trữ trong cơ thể.

Tất cả các loại rau xanh, nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, xoài, bí đỏ là những thức ăn nhiều caroten, còn gọi là tiền vitamin A, vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A.

Vitamin E giúp chống sự oxy hóa; bảo vệ mô; giúp phát triển tế bào thần kinh thai nhi. Nếu thiếu vitamin E thai phụ sẽ cảm thấy lo âu mệt mỏi. Vitamin E có nhiều trong thịt, cá, trứng, ngũ cốc, đậu nành, rau quả.

Vitamin C làm tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt từ bữa ăn, góp phần phòng chống thiếu máu do thiếu sắt, giảm nguy cơ cao huyết áp. Đối với phụ nữ có thai, nhu cầu vitamin C là 80mg/ ngày và đối với bà mẹ cho con bú là 100mg.

Thực phẩm có nhiều vitamin C gồm trái kiwi, chanh, ớt chuông, dâu tây, cà chua, cam. Rau xanh có nhiều vitamin C nhưng dễ bị hao hụt trong quá trình nấu nướng.

Vitamin B6 có trong mạch nha, thịt, cá, trứng. Thiếu vitamin B6 có thể gây vọp bẻ, suy nhược, căng thẳng, đau đầu.

Sắt là một nguyên tố quan trọng đối với sự phát triển bào thai và giảm nguy cơ mất máu lúc chuyển dạ. Thai phụ thiếu máu, thiếu sắt có nguy cơ sinh non, sẩy thai, thai chết lưu, chậm phát triển bào thai trong tử cung. Nhu cầu sắt trong khẩu phần là 30 – 40 mg/ngày, từ những thức ăn giàu chất sắt như thịt, phủ tạng động vật (tim, gan, thận, huyết… ), lòng đỏ trứng, cá, thủy sản và đậu đỏ, rau dền, củ dền, xà lách xoong. Ngoài tăng cường thức ăn giàu chất sắt, người mẹ mang thai nên bổ sung 60mg sắt nguyên tố/ngày trong suốt thời gian mang thai đến sau sanh 1 tháng.

Canxi là chất dinh dưỡng rất quan trọng cho việc hình thành hệ xương và răng của thai nhi. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, nhu cầu Canxi cần cung cấp là 800 mg/ngày, ở 3 tháng giữa là 1.000 mg/ngày, trong 3 tháng cuối và khi con bú là 1.500 mg vì thai càng lớn thì xương thai nhi càng phát triển. Nếu không được cung cấp đủ Canxi, cơ thể sẽ tự động lấy Canxi từ xương để cung cấp cho thai nhi, điều này sẽ khiến xương và răng của thai phụ bị suy yếu. Nếu thai nhi không được cung cấp đủ canxi sẽ làm ảnh hưởng để việc tạo xương và các mầm răng ngay từ trong giai đoạn bào thai, gây nên những khiếm khuyết về xương và răng có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành.
Để hoạt động trên được tiến hành thuận lợi, phải ăn đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt quan tâm tới lượng Canxi kết hợp với vận động vừa phải.

Nguồn thực phẩm giàu Canxi gồm sữa và chế phẩm từ sữa như phó mát ít béo; trứng, bánh mì trắng, cá, tôm, cua, các loại rau, bánh mì làm bằng bột lúa mì để nguyên cám, táo, nho, dâu, nho khô… Ngoài ra khi thai phụ có biểu hiện thiếu Canxi như chuột rút, tê tay chân, loãng xương… thì cần bổ sung viên Canxi. Canxi sẽ tăng hấp thụ nếu sử dụng Canxi kèm vitamin D.

Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật màu đỏ và nhuyễn thể, đặc biệt hàu chứa 75mg kẽm/100g hàu. Thiếu kẽm, bà mẹ mang thai sẽ nghén nhiều hơn với các biểu hiện: buồn nôn, nôn, chán ăn, mệt mỏi, dễ sảy thai, sanh non, giảm tiết sữa sau sinh. Thiếu kẽm, thai nhi chậm phát triển dẫn đến bị suy dinh dưỡng bào thai, trẻ sơ sinh có cân nặng thấp, dị dạng thai. Để tránh thiếu kẽm, các bà mẹ phải ăn các thực phẩm giàu kẽm từ trước khi mang thai 2-3 tháng cũng như suốt thời kỳ mang thai và nuôi con bú. Cần biết là Canxi và sắt có thể làm giảm hấp thu kẽm, vì vậy, nên sử dụng các thành phần này cách xa nhau.
I ốt – Phụ nữ mang thai thiếu I-ốt có thể bị sảy thai, thai chết lưu, sanh non. Trẻ thiếu I-ốt có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay, chân, ngọng, điếc, câm, mắt lác. Nhu cầu I-ốt của phụ nữ mang thai là 175- 200mcg I/ngày. I – ốt có nhiều trong các loại hải sản, rong biển… Nếu không được cung cấp đầy đủ các thức ăn này, thai phụ nên sử dụng muối I-ốt thay muối thường. Đây là biện pháp phòng ngừa thiếu I-ốt hiệu quả nhất.

Lữ Thị Trúc Mai

Danh Mục Khác

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>